SWT 87 – TÌNH DỤC THỦA HỒNG HOANG

P.S: Đây là cuốn sách mà những ai đã, đang và sẽ: yêu, sex, ngoại tình, đánh ghen, kết hôn, nuôi con…và khuyên nhủ người khác về những vấn đề trên nên đọc một lần.

Hãy tưởng tượng, bạn đang đi dạo trong khuôn viên một trường đại học rồi bỗng nhiên có một sinh viên lạ tiếp cận. Họ nói rằng “Mình đã để ý bạn khắp sân trường và mình thấy bạn vô cùng hấp dẫn.” Sau đó, họ sẽ hỏi bạn một trong ba câu hỏi: (1) “Bạn có muốn đi chơi với mình tối nay không?” (2) “Bạn có muốn qua phòng của mình tối nay?” hoặc (3) “Bạn có muốn ngủ với mình tối nay?” Bạn sẽ trả lời như thế này? Liệu câu trả lời có sự khác biệt nếu bạn là nam hay là nữ không?

Đây là một trong những thí nghiệm kinh điển trong tâm lý học tình dục cho thấy sự khác nhau về giới đối với tình dục ngẫu hứng (Casual sex). Trong thí nghiệm trên, khoảng 50% số nam và 50% số nữ đồng ý với lựa chọn 1. Nhưng khi sự lựa chọn trở nên nhạy cảm hơn, sự khác biệt về giới bộc lộ rõ. Chỉ có 6% sinh viên nữ lựa chọn đi tới căn hộ người đóng giả trong thí nghiệm, trong khi có tới 69% số nam đồng ý. Về chuyện quan hệ, không một bạn gái nào đồng ý trong khi có tới 75% số nam chấp nhận đề nghị hấp dẫn này. Từ đó, các tác giả cho rằng có thể đàn ông thích chuyện quan hệ tình dục ngẫu hứng hơn phụ nữ và phụ nữ thì e thẹn, hay cẩn trọng hơn trong chuyện này.

Đây chỉ là một trong vô số các giả định của các nhà tâm lý học tiến hóa về tình dục mà 2 tác giả Christopher Ryan và Cacilda Jethá, một nhà tâm lý học và một nhà tâm thần học (cả hai là vợ chồng của nhau), tìm những bằng chứng để phản biện lại cái họ gọi là những lời kể chính thống (standard narrative) được trình bày trong cuốn sách Tình dục thuở hồng hoang. Tuy nhiên, trước khi bạn có thể hiểu gì các tác giả nói gì, bạn phải hiểu họ đang chống lại cái gì trước đã.

Độc thê và bản chất con người

Gia đình hạt nhân hay gia đình truyền thống (gồm 2 thế hệ: bố mẹ và con) là những gì mặc định, không cần đặt nghi vấn trong xã hội hiện đại. Các nhà nước hiện đại thể chế hóa chúng vào trong các điều luật, rằng những người lấy nhiều vợ một lúc có thể bị bắt và bỏ tù. Nhìn quanh chúng ta, bạn có thể đếm được bao nhiêu trường hợp mà câu chuyện tình yêu của họ không diễn biễn như sau: Sau một vài mối tình riêng, họ gặp nhau, yêu nhau và lấy nhau, chỉ quan hệ tình dục với nhau, nuôi con chung của nhau đến khôn lớn và sống với nhau đến già. Tuy có những ngoại lệ (như chuyện ngoại tình, ly hôn…), nhưng mô hình đơn thê vẫn chiếm đa số và ăn sâu vào đời sống của chúng ta đến mức thật khó để không coi chúng như là một cấu hình phù hợp với bản chất tự nhiên của con người, tách biệt con người với các loài động vật khác và bắt nguồn từ thời tiền sử đến bây giờ. Phần đông các nhà khoa học cũng đồng tình như thế. Vậy lý thuyết của họ dùng để giải thích là gì?

Chiến lược sinh sản và sự đầu tư của của bố mẹ

Trong cuốn Gene vị kỉ, Richard Dawkins viết: “Cả hai đối tác, những cỗ máy vị kỷ, đều “muốn” có con trai và con gái với số lượng như nhau. Chúng đều đồng ý trong phạm vi đó. Điểm mà chúng không nhất trí là ai sẽ chịu mang gánh nặng về chi phí nuôi dạy từng đứa con trong số này. Mỗi cá thể đều muốn có càng nhiều con sống sót càng tốt. Cá thể đực hoặc cá thể cái càng có ít bổn phận đầu tư cho bất kì đứa trẻ nào trong số con của chúng thì nó càng có thể có nhiều con hơn. Một cách dễ dàng để có được trạng thái mong muốn đó là khuyến khích đối tác của bạn đầu tư nhiều hơn phần tài nguyên của nó cho mỗi đứa trẻ, và bạn có thể tự do có những đứa trẻ khác với những bạn tình khác. Đây sẽ là chiến lược mong muốn của mỗi giới, nhưng cá thể cái khó có thể có được điều đó.”

Công sức đầu tư của con đực vào quá trình giao phối là rất ít. Ở đàn ông, tinh trùng được tạo ra liên tục hàng giờ và không bao giờ hết trong suốt cuộc đời. Ở nữ, mọi chuyện lại khác. Phụ nữ chỉ có 400,000 trứng non khi có kinh lần đầu và chúng mất bị mất đi sau mỗi chu kì kinh nguyệt. Khi trứng được thu tinh, phôi thai được tạo ra cũng thể hiện sự đầu tư của con cái sâu sắc hơn nhiều con đực. Trong đa số các loài động vật, trứng lớn hơn nhiều tinh trùng, bởi vì trứng còn phải chứa đủ chất dinh dưỡng và bộ máy trao đổi chất để hỗ trợ cho sự phát triển của bào thai, ít nhất là tới khi bào thai có thể bắt đầu tự nuôi sống mình. Trái lại, tinh trùng chỉ chứa một chiếc động cơ và năng lượng đủ dùng để bơi trong một vài ngày. Vì vậy, một quả trứng ở người trưởng thành có khối lượng gấp một triệu lần con tinh trùng thụ tinh cho nó.

Không chỉ thế, vì là loài động vật thụ tinh trong, con cái không đẩy phôi thai ra ngoài môi trường để nó tự phát triển, mà giữ chúng đến giai đoạn chúng có thể tự nuôi sống chính mình. Vì thế trong 9 tháng 10 ngày, một cuộc chiến khốc liệt xảy ra về dinh dưỡng giữa mẹ và con non trong bụng. Tuy nhiên, lúc này con đực lại có thể thoải mái đi cặp kè những con cái khác để “tiếp tục” sứ mệnh lan tỏa gene của mình.

Đến thời điểm sinh con, sự đầu tư của con đực và con cái đã chênh lệch nhau quá lớn. Tuy nhiên, “sự hi sinh” của con cái chưa dừng lại tại đây. Con cái phải tiếp tục nuôi con bằng sữa từ 5 tới 6 năm (đối với những người tiền sử, khi chưa có sữa từ các loài động vật được thuần hóa như dê, bò). Ngoài ra, nó cũng không thể giao phối để sinh sản được, khác với con đực, do prolactin gia tăng ức chế rụng trứng.

Lúc này, con cái phụ thuộc rất nhiều vào con đực để cung cấp sự bảo vệ, chỗ ở, đồ ăn để nuôi mình và con. Tuy nhiên, con đực sẽ chỉ sẵn sàng đầu tư “nguồn lực” của mình, nếu nó biết chắc chắc rằng đứa con kia là con của mình, chứ không phải của ông hàng xóm. Dù muốn biết, nhưng do thụ thai trong, nên con đực chỉ còn cách canh giữ con cái và chiếm độc quyền về mặt tình dục để đảm bảo con cái không quan hệ với con đực khác ngoài mình. Đổi lại, con cái sẵn sàng trao đổi sự độc quyền tiếp cận tình dục của con đực với mình để lấy sự bảo vệ và thức ăn, sự chăm sóc của con đực (khái niệm hiện đại của các đại gia).

Tại sao phụ nữ lại hay ghen và đàn ông lại hay cặp bồ?

Trong một nghiên cứu, nhà tâm lý học tiến hóa David Buss và các cộng sự của mình hỏi 1,122 người thử tưởng tượng người yêu của mình trở nên quan tâm tới một người khác. Họ hỏi, “Điều gì sẽ làm bạn tức tối hay bực bội hơn: (a) tưởng tượng người yêu của bạn có một mối quan hệ tình cảm sâu sắc (nhưng không có tình dục) với người đó, hoặc (b) tưởng tượng người yêu của bạn tận hưởng một mối quan hệ tình dục (nhưng không có tình cảm) với người đó?” Trong các nghiên cứu như trên được thực hiện tại khuôn viên các trường đại học khắp nước Mỹ, và châu Âu, Buss và đồng nghiệp có được các kết quả khá giống nhau.

Họ thấy rằng đàn ông và phụ nữ khác nhau khoảng 35% trong câu trả lời của họ. Từ đó, họ khái quát rằng, đàn ông khắp thế giới đều lo lắng về độ chắc chắc của việc mình là cha đứa trẻ (do đó, mối quan tâm lớn nhất của anh ta là sự chung thủy về mặt tình dục của người phụ nữ). Bạn đã từng đọc những vụ chồng bắt được vợ vụng trộm trong nhà nghỉ trên báo và phản ứng của anh ta khi biết được đứa con yêu quý anh ta hàng ngày chăm sóc là con của người khác. Đó chính là là kịch bản tồi tệ nhất xảy ra với người đàn ông. Với người phụ nữ, điều tồi tệ nhất sẽ là người đàn ông yêu một cô khác và rời bỏ mình, từ đó mà không còn tiếp tập được nguồn lực và sự hỗ trợ của người đàn ông. Dù người đàn ông có đi vụng trộm chăng nữa, điều đó cũng không đe dọa bằng việc anh ta rời đi hẳn và theo người khác. Do đó, bạn có thể thấy phụ nữ có máu ghen tuông lớn hơn nhiều đàn ông và rất nhạy cảm với những tín hiệu rằng người yêu hay chồng mình thích một người khác.

Đâu là sự thật?

Tất cả những lý luận trên đều nghe có vẻ hợp lý và logic, chỉ trừ việc nó áp dụng cho con người thuộc xã hội nông nghiệp và hậu nông nghiệp, chỉ mới xảy ra cách đây 10,000 năm. Tuy nhiên, con người đầu tiên đã xuất hiện cách đây 5 triệu năm, và tới 95% lịch sử loài người sống trong các xã hội săn bắn hái lượm. Liệu việc chỉ nguyên cứu 5% lịch sử của loài người để kết luận bản chất của con người là như trên. Cấu hình hôn nhân độc thê hiện nay mà chúng ta đang sống liệu có phù hợp với bản chất tự nhiên của con người chúng ta hay chỉ để phụ vụ cho nền đạo đức, kinh tế, chính trị hậu nông nghiệp?

Bây giờ, có thể bạn đã tạm hiểu lời kể chính thống mà tác giả muốn phản biện là gì. Từ đây, chúng ta bắt đầu đi phân tích cuốn sách trên. Tác giả sử dụng những bằng chứng từ các ngành linh trưởng học, giải phẫu học, nhân chủng học, khảo cổ học, tâm lý học tiến hóa để tìm ra đâu mới là bản chất tình dục của con người thật sự.

Chimpanzze hay Bonono? Mô hình nào phù hợp với bản chất con người?

12729114_10204092859161052_7622783756516605319_n

Con người có 4 họ hàng gần gũi nhất thuộc họ Ape lớn: Con orangutan sống ở Đông Nam Á (3.6% sai khác DNA), Con gorilla (2.3 % sai khác DNA), Con Chimpanzee và con Bonobo là hai họ hàng gần gũi với chúng ta nhất (sai khác 1.6% DNA). Chúng ta gần gũi về mặt chất liệu gene với những con này còn hơn một con voi châu Á với một con voi châu Phi. Trong đó, con orangutan thường sống đơn độc, con đực và con cái gặp nhau chỉ để giao phối, sau đó con cái sẽ lãnh hết trách nhiệm nuôi con. Với gorila, các con đực luôn luôn phải cạnh tranh nhau để tiếp cận con cái theo kiểu được ăn cả, ngã về không. Có tới 95% các con non gorilla được thụ tinh chỉ bởi 5% con đực. Cuối cùng là hai con Chimpanzee và Bonobo, sống ở các khu vực rừng khác nhau của sông Congo, giao phối lẫn nhau giữa các con đực và con cái, không có mối gắn kết con đực-con cái, hay con cha-con non kéo dài.

Tùy theo góc nhìn của bạn về bản chất con là thiện hay ác, bạn sẽ chọn chimp hay bonobo là tổ tiên đại diện cho bản chất của con người (chúng đều có độ sai khác DNA với con người như nhau). Chimp được gọi là loài ape sát thủ (killer ape) bởi bản chất khát máu, ham bạo lực, hiếu chiến, và như 2 nhà linh trưởng học Richard Wrangham và Dale Peterson nói:”Bản chất bạo lực giống như con Chimpanzee đã tồn tại từ trước và dọn đường cho chiến tranh của con người, cho thấy sự sống sót kì diệu của con người hiện đại trong 5 triệu năm liên tục diễn ra bạo lực chết người.”

Bonono, loài mà ban đầu người ta còn tưởng nhầm còn con Chimpanzee nhỏ, đưa cho chúng ta một mô hình khác về bản chất con người. Frans de Waal, một nhà linh trưởng học nổi tiếng khác, so sánh hành vi giữa hai con như sau “Chimpanzee giải quyết vấn đề tình dục bằng quyền lực; con bonobo giải quyết vấn đề quyền lực bằng tình dục“. Bonono còn được biết đến trong quần chúng với khẩu hiểu “hãy yêu nhau, đừng gây chiến.” Helen Fisher, một nhà tâm lý học nổi tiếng, nói rằng bonobos “thể hiện rất nhiều thói quen tình dục mà mọi người thể hiện trên đường, trong quán bar và trong nhà hàng, và sau cánh cửa căn hộ ở New York, Paris, Moscow, và Hong Kong.” “Trước khi giao phối,” bà viết, “bonobos thường nhìn sâu vào mắt nhau” và “chúng đi lại tay trong tay, hôn lên chân và miệng nhau, trao nhau những nụ hôn dài, sâu, chạm lưỡi kiểu Pháp.”

Bà viết tiếp rằng:”Có lẽ bononos mới là di sản sống của quá khứ con người. Nhưng chúng chắc chắc biểu hiện sự khác nhau căn bản trong hành vi tình dục. Điều kiên quyết là, bonobo không hình thành mối quan hệ cặp đôi kéo dài như con người. Chúng cũng không nuôi con như những ông bố và bà mẹ. Con đực có quan tâm tới con non, nhưng chuyện đơn thê không phải cách chúng sống. Các sống của chúng là giao lỗi lẫn lộn (Promiscuty: giao phối không phân biệt).” Nếu quả thực, tổ tiên thực sự của chúng ta là con bonobo, thì việc hình thành mối quan hệ cặp đôi kéo dài có phải là một sự sáng tạo xã hội, đi ngược lại bản chất tự nhiên của chúng ta.

Bằng chứng từ cơ thể người.

Bởi vì hành vi sống hay quan hệ tình dục không thể hiện lên các dấu vết hóa thạch, chúng ta có một số cách khác để phỏng đoán về đời sống tình dục của những người thời tiền sử thông quan chính cơ thể của mình nhờ sự chọn lọc tự nhiên đã diễn ra hàng vạn năm. Thứ nhất, chúng ta có thể nhìn vào sự sai khác giữa cơ thể con đực và con cái (body-size dimorphism). Ở các loài linh trưởng, sự khác nhau này thể hiện qua việc cạnh tranh trong giao phối. Với cấu hình giao phối kẻ thắng lấy tất cả, các con đực cạnh tranh với nhau để có cơ hội được giao phối với con cái. Vì thế, những con đực nào to khỏe, mạnh mẽ sẽ giành phần thắng và nhờ đó truyền những gene to khỏe này lại cho các đời sau. Bởi vậy, con gorilla và orangutan đực có cơ thể to gấp đôi con cái.

12729088_10204079527787776_5883398191418397246_n

Mặt khác, với những loài mà không phải chiến đấu đề giành con cái, việc phát triển cơ thể to, khỏe quá mức là không cần thiết. Vì vậy, con gibbon đực và cái có kích thước gần như nhau, do chúng theo chế độ độc thê. Với chimpanzee, bonobo và con người, cơ thể nam chi to và nặng hơn con thể nữ từ 10 đến 20%, một tỉ lệ dường như giữ vững trong một vài triệu năm. Vì vậy, nếu xét từ tiêu chí này, con người có vẻ thuộc về kiểu giao phối lẫn lộn, vì cơ thể nam-nữ cũng không có kích thước bằng nhau (như con gibbon theo độc thê) cũng như không gấp đôi nhau (như con gorilla theo đa thê nam).

Cuộc cạnh tranh tinh trùng

Thứ hai, chúng ta có thể nhìn vào kích thước của tinh hoàn so với cơ thể người. Với con gorilla, việc phát triển tinh hoàn to hay dương vật dài là một điều không cần thiết, vì chúng chỉ cần thật to khỏe, cơ bắp để chiến đấu với những con đực khác. Bởi vậy, bạn sẽ thấy quả cả của con gorila chỉ bằng hạt đậu thận, và dương vật chỉ dài có 1 inch. Con Bonobo lại có dương vật dài gấp ba lần con gorila và quả cà to bằng quả trứng gà. Tại sao lại như vậy?

Với những loài theo kiểu giao phối lẫn lộn, mục đích của cạnh tranh không phải là ai sẽ tiếp cận được con cái mà là tinh trùng của con đực nào sẽ tiếp cận được trứng của con cái. Cuộc chiến đấu diễn ra ở cấp độ tế bào, do đó con đực sẽ tiến hóa theo hướng phát triển cơ quan sinh dục to hơn, dài hơn, phóng nhiều tinh trùng trong một lần quan hệ hơn để cạnh tranh trong đường sinh sản của người phụ nữ.

Vì cuộc cạnh diễn ra ở “trong kia” chứ không phải “ngoài này”, dương vật của con người cũng được “tiến hóa” với những chức năng đặc biệt. Dương vật của người được “thiết kế” sao cho với hành động “thò ra, thụt vào” của chúng sẽ hút chân không, nhằm đẩy tinh trùng của những con khác ra ngoài đường sinh sản của con cái. Dương vật của con người cũng thuộc loại dài nhất và dày nhất so với bất kì loài linh trưởng nào.

Ngoài ra, trong mỗi lần xuất tinh, dương vật thường bắn từ 3 tới 9 lần. Khi các nhà nghiên cứu phân tích, họ phát hiện lần bắn đầu tiên có chứa các chất hóa học nhằm bảo vệ lại các cuộc tấn công, không chỉ từ eucocytes và antigens trong đường sinh sản của phụ nữ, mà còn bảo vệ lại khỏi các chất học từ tinh trùng của những con đức khác trong đó. Trong lần bắn cuối, chúng lại chứa các chất hóa học có nhiệm vụ làm chậm lại sự tiến công của các con tinh trùng khác.

Tại sao con người lại có công cụ đặc biệt này nếu bản chất tự nhiên của chúng ta giống như con gorilla hay gibbon, những con độc quyền về mặt tình dục với con cái, do đó không cần phát triển các cơ chế cạnh tranh tinh trùng? Đây là một trong những bằng chứng khó có thể chối cái về chế độ độc thê dường như đi ngược lại với những cấu tạo sinh học của người được tiến hóa cho một cấu hình tình dục khác.

Phát hiện từ các nhà nhân chủng học

Một trong những di sản sống của cuộc sống thời tiền sử khác là sự tồn tại của các bộ lạc chưa bị khuấy động quá nhiều bởi nền văn minh hiện đại. Một trong những dữ liệu xuyên văn hóa lớn nhất về các thông tin nhân học là các tập tin Human Relations Area, được thành lập năm 1949 và duy trì tại đại học Yale. Theo những tập tin này, tổng hợp từ các nền văn hóa từng được nghiên cứu, phần trăm cấu hình “độc thê” được “xã hội chấp nhận” và/hoặc “được khuyến khích” chỉ chiếm 16%. Đa thê nam (Polygyny) chiếm 83%, nghĩa là trong các xã hội này, việc có nhiều hơn một vợ được khuyến khích hoặc cho phép về mặt xã hội. Chiếm ít hơn 1% là Đa thê nữ (Polyandry), trong nó người phụ nữ có nhiều hơn 1 chồng.

Một trong số đó là người Mosuo, sống quanh hồ Lugu tại tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Ở đây, phụ nữ và đàn ông rất thoải mái về mặt tình dục, họ không xấu hổ khi nói rằng mình có hàng trăm mối quan hệ khác nhau. Đối với họ, việc đáng xấu là chuyện hứa hẹn hoặc đòi hỏi sự chung thủy, vốn là nền tảng của các gia đình truyền thống. Tuy nhiên, khi chính phủ Trung Quốc nắm quyền kiểm soát toàn bộ khu vực này vào năm 1956, các quan chức địa phương bắt đầu ghé thăm và “văn minh hóa” họ bằng nhiều biện pháp từ giảng giải đến bắt phục kích những cặp đôi hay cắt viện trợ quần áo hay hạt ngũ cốc, mặc dù không đem lại hiệu quả lắm.

Người tiền sử sống ra sao?

Nếu như bạn về phe triết gia vĩ đại của thế kỉ 17, Thomas Hobbes, thì bạn sẽ mô tả cuộc sống của người tiền sử như sau :”Cô độc, nghèo nàn, kinh tởm, loạn lạc và ngắn ngủi”. Nói chung, có chết chúng ta cũng không muốn quay lại. Tuy nhiên, nếu bạn về phe một triết gia vĩ đại khác của thế kỉ 18, Jean-Jacques Rouseau, thì bạn sẽ coi cuộc sống thời tiền sử như một thiên đường đã mất. Sẽ không có đúng sai tuyệt đối, nhưng với các bằng chứng từ khoa học hiện đại, chúng ta có thể xác định được ai đúng hơn và ai sai hơn.

Những người săn bắn hái lượm, khác với tưởng tượng của chúng ta, sống một cuộc sống tốt đẹp hơn nhiều. Họ chỉ kiếm ăn 15 giờ 1 tuần, khoảng 2h một ngày, so với 8h tiếng trung bình như con người hiện đại. Tại sao? Vì thức ăn quá nhiều và con người quá ít. Trong thời tiền sử, dân số thế giới không bao giờ vượt quá vài triệu người (bằng dân số của Hà Nội và Sài Gòn cộng lại) và có thể còn ít hơn 100,000 người trong một thời gian dài do các thảm họa tự nhiên. Bữa ăn của họ giàu dinh dưỡng hơn nhiều, do được ăn các loại hoa, củ, quả, thịt đa dạng, hơn là một vài món của con người thời xã hội nông nghiệp.12662443_10204079565748725_2455257653001417894_n

Họ cũng khỏe mạnh hơn nhiều do vận động liên tục. (Rất nhiều bệnh của chúng ta ngày nay là do quá ít vận động bởi cơ thể con người được thiết kế để chạy bộ vài km một ngày). Họ cũng sông lâu tới tận 60-70 tuổi (Một phần tuổi thọ trung bình thấp của người tiền sử thấp là do tỉ lệ chết non cao). Họ cũng không mắc nhiều bệnh tật hay gặp phải bệnh dịch chết người, do không thuần hóa động vật, không sống tập trung và không giao thương.

Họ không cô đơn như chúng ta hiện nay, vì mỗi người đều sống thành các bộ lạc, khoảng 150 người, thân thiết, biết rất rõ nhau. Của cải, đồ ăn của họ được chia chung và mỗi người sở hữu rất ít tài sản riêng. Tình dục của họ cũng không mang tính sỡ hữu (đây là vợ của tôi, anh không được động vào) và con cái của họ được cả bộ tộc nuôi chung. Theo lời kể chính thống, có hai giả định của các nhà tâm lý học tiến hóa, đó là: Người phụ nữ sẽ luôn lo lắng việc sẽ không có người chăm sóc con khi người bố bỏ đi và người bố sẽ luôn lo lắng liệu đứa con kia có chắc chắc là con của mình. Tuy nhiên, hai nỗi lo này có thể được giải quyết trong đời sống của người tiền sữ. Những người nữ không lo ai sẽ chăm sóc con mình, vì ai cũng sẽ chăm sóc con mình, ai cũng là bố và mẹ của chúng. Những người nam sẽ không lo đâu là con mình, vì ai cũng là con mình.

Ai là cha, ai là mẹ?

Các nhà nhân nhân chủng học ghi nhận rằng, ở một số xã hội, người ta tin rằng một đứa bé có thể là con của nhiều người cha cùng một lúc. Phôi thai của đứa bé này được hình thành bởi tinh trùng của những người đàn ông khác nhau mà người phụ nữ đã từng quan hệ. Vì thế, giống như mọi người mẹ đều muốn cho con mình những cơ hội phát triển tốt nhất trước khi chào đời, người phụ nữ sẽ quan hệ với một tổ hợp những người đàn ông khác nhau: người đẹp trai nhất, người săn bắn giỏi nhất, người kể chuyện tài ba nhất, người tốt bụng nhất, người khỏe mạnh nhất…. với hi vọng rằng con mình sẽ hấp thụ được những phẩm chất ưu tú này qua mỗi lần quan hệ. Tại Paraguay, khi một nhà nhân học hỏi những người 321 Aché nhận diện cha của mình, họ kể đến hơn 600 người cha.

Tập quán này có nhiều ý nghĩa cả về mặt sinh tồn lẫn tâm lý. Những đứa trẻ này thay vì bị xa lánh như con hoang, chúng được chăm sóc, nuổi nấng bởi nhiều hơn một ông bố, vì vậy khả năng sống sót của chúng cao hơn nhiều so với những xã hội mà chỉ có một người cha xác định. Những ông bố này không những không ghen ghét lẫn nhau, họ còn bày tỏ lòng biết ơn những người đàn ông khác vì đã giúp đứa bé khỏe mạnh hơn, và sống gắn bó với họ, nhờ mối liên kết “làm bố” chung.

Lỗi lầm của các nghiên cứu tâm lý về tình dục

Một trong những những vấn đề lớn trong nghiên cứu khoa học là việc chọn mẫu. Nếu mẫu không đủ lớn, không đủ tính đại diện, thì khó có thể khái quát thành các nguyên lý mang tính “bản chất con người”, đặc biệt là trong ngành tâm lý học tiến hóa. Nó giống như việc bạn chỉ nguyên cứu cá trong một cái ao, và khái quát nó cho mọi con cá khác sống ở hồ, suối, sông, biển. Và cái ao đó của các nhà tâm lý học mang tên WEIRD. Nó gồm những “con cá” mang tên “phương Tây, được giáo dục tốt, đã công nghiệp hóa, giàu có và dân chủ”. Như trong nghiên cứu được trích ở đầu, phần lớn những người được hỏi là những sinh viên đại học, một mẫu quá hẹp để khái quát về bản chất tính dục của con người. Thêm nữa, hầu hết tất cả chúng ta hiện nay đã bị ảnh hưởng nhiều bởi lối sống hậu nông nghiệp, sở hữu cá nhân, quan niệm bị ảnh hưởng nhiều bởi giáo lý từ các tôn giáo, nên khó có thể dùng chúng để khái quát về bản chất con người.

Ngoài ra, như trong nghiên cứu về tính dục của người phụ nữ, có nhiều vấn đề lớn cần giải suy xét. Ví dụ, tính dục của người phụ nữ thay đổi trong suốt chu kì kinh nguyệt. Khi phụ nữ rụng trứng, họ sẽ có khả năng mặc nhiều trang sức hơn, sức nước hoa nhiều hơn, ra ngoài nhiều hơn, sẵn sàng quan hệ tình dục ngẫu hứng nhiều hơn, ít có khả năng sử dụng bao cao su hơn. Phụ nữ tuổi 40 sẽ có quan niệm tình dục khác hẳn tuổi 20, mặc dù với quan niệm tình dục có thể khá bền vững với nam do yếu tố gọi là “erotic plasticity” (Sự mềm dẻo về mặt tính dục) khác nhau giữa nam và nữ. (Nam giới, khi qua một giai đoạn phát triển, yếu tố tính dục sẽ giống như sáp nến đông cứng, khó mà thay đổi được. Nữ giới thì dễ thay đổi hơn nhiều.)

Ngoài ra, ở nữ giới, bộ phận sinh dục và trí não của họ như hai con người khác nhau. Khi cho xem các phim khiêu dâm giữa nam nữ, nam nam, nữ nữ, bonono với bonono, người phụ nữ gần như bị kích thích ở tất cả các thể loại (được đo bằng thiết bị gọi là plethysmograp dùng để đo lượng máu chảy tới âm hộ). Tuy nhiên, khi được hỏi thì họ nói mình không hoặc ít bị kích thích, một bằng chứng cho thấy thật khó để lấy được sự thật chỉ bằng cách tin vào lời nói của người phụ nữ như trong các nghiên cứu. Do đó, mỗi khi đọc các nghiên cứu tâm lý cho rằng phụ nữ ghen tuông, e thẹn, ít cặp kè, ít ham muốn tình dục..hơn đàn ông, bạn hãy luôn cảnh giác.

Lời kết

Với những bằng chứng từ Linh trưởng học, Sinh lý học, Tâm lý học, Nhân chủng học, Khảo cổ học…hai tác giả của cuốn sách Tình dục thuở hồng hoang: Nguồn gốc tiền sử của tình dục hiện đại đã cho ta thấy chế độ “đơn thê” dường như trái ngược với bản chất tính dục con người.

Điểm cần lưu ý là các tác giả không ủng hộ rằng đơn thê là tốt hơn hay xấu, kêu gọi chúng ta tới một lối sống nào hết, mà chỉ cố gắng giúp chúng ta hiểu tình dục con người dưới góc độ sâu và rộng hơn nhiều những bài giảng sinh học được học tại chương trình phổ thông.12718362_10204079531667873_4114696835237743365_n

Họ ví độc thê như việc ăn kiêng: không phải bạn chọn ăn kiêng, nghĩa là thịt xông khói không ngừng trở nên hấp dẫn. Ăn kiêng có lợi ích của nó, giống như độc thê rất có lợi cho sự phát triển kinh tế tư bản, cho sự nở rộ của các đại đô thị…Nhưng chắc chắc sẽ có những khó khăn khi chúng ta chọn con đường trái với bản chất tự nhiên của con người, đặc biệt chuyện tính dục là một chuyện không dễ có thể bỏ qua. Vì vậy, tôi rất mong tất cả những ai đã, đang và sẽ yêu, quan hệ tình dục, lập gia đình…và khuyên nhủ người khác về những vấn đề trên hãy đọc quyển sách này một lần. Không phải để cổ xúy cho một lối sống nào mà để ta hiểu biết hơn về chính ta và đưa ra những lựa chọn và lời khuyên có kiến thức hơn.

Các cuốn sách tham khảo và cần đọc thêm:

Vì tác giả viết cuốn này cho người Mỹ, không phải người Việt, nên ngầm định một phông văn hóa cũng như kiến thức khác nhau. Quyển này được viết với tư thế chống đối, vì vậy tác giả trích rất nhiều các học giả, các cuốn sách nổi tiếng ở “bên đấy” chứ không ở bên này. Để hiểu hơn và có thể phản biện tốt lại cuốn sách này tốt hơn, ít nhất bạn cũng nên đọc một số quyển sách sau. Sự học không bao giờ là ngừng nghỉ.

Gene vị kỉ của Richard Dawkins
Tại sao tình dục lại thú vị của Jared Diamond
The Moral Animal của Robert Wright
Anatomy of Love của Helen Fisher
Our Inner Ape của Frans B. M. Waal
A Primate’s Memoir của Robert Sapolsky
Evolutionary Psychology của David Buss
The Evolution of Human Sexuality của Donald Symons và Michael R. Kauth

Minh Dao

facebook.com/minh.dao.587

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s